Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang chuẩn, đầy đủ | Hanhphucvang

Huy Cận là một tác giả nổi tiếng của Làng thơ mới, nơi ông được biết đến với những vần thơ “cổ điển nhất”. Anh từng tâm sự với tôi: “Trước cách mạng, chiều chủ nhật nào tôi cũng có thú vui khi ra bờ kè Chèm để ngắm cảnh sông Hồng. Cảnh đẹp sông nước gợi lên trong tôi rất nhiều cảm xúc ”. Và bài thơ Tràng Giang ra đời vào một buổi chiều lãng mạn ấy của Huy Cận, tác phẩm được in trong tập Lửa thiêng (1940). Không chỉ là cảnh đẹp của thiên nhiên đất nước, Tràng Giang còn chứa đựng tâm trạng, tình cảm sâu sắc của nhà thơ. Hãy phân tích 2 khổ thơ đầu của Tràng Giang để thấy rõ điều đó.

Bài thơ Tràng Giang của Huy Cận
Bài thơ Tràng Giang của Huy Cận

Thơ là thể loại nhiều nghĩa nên nhà thơ ít khi bộc lộ ngay suy nghĩ của mình trên bề mặt ngôn từ mà thường mượn cảnh vật thiên nhiên để ngụ ý, rồi chắt lọc qua từng câu chữ. Vì vậy, muốn hiểu hết ý nhà thơ, người đọc phải từ từ “bóc từng lớp vỏ”, chạm đến tầng sâu nhất mà không bị “trầy xước”, “vỡ vụn”. Huy Cận cũng không ngoại lệ, ông đã mở đầu bài thơ và sử dụng những hình ảnh nổi tiếng: con thuyền, dòng sông để nói lên cảm xúc của mình:

“Sóng lăn tăn bao nỗi buồn,

Thuyền xuôi theo mái song song ”.

Bằng cách lặp lại vần “ang” trong bài “trang giang”, tác giả cho thấy một không gian dài miên man, đây cũng là đỉnh cao của phong cách thơ Huy Cận. Ngay sau đó là tâm trạng của nhà thơ được mở đầu bằng “buồn điệp điệp”. Đau buồn giờ đây không phải là điều gì đó mơ hồ, mơ hồ mà đã được cụ thể hóa, cứ như từng con sóng chồng lên nhau không ngừng đập vào bờ. Khi đọc câu thơ, chúng ta biết rằng nỗi buồn không nảy sinh trong chốc lát, mà âm ỉ trong một thời gian dài, như thể nó sẽ tồn tại mãi mãi. Từ “song song” trong câu thơ tiếp theo gợi hình ảnh hai vật, hai thế giới nằm cạnh nhau nhưng không hề va chạm, gần gũi nhưng không bao giờ gặp gỡ. Ở đây dường như tác giả muốn nhấn mạnh đến sự lẻ loi, lẻ loi của con thuyền trên sông và cũng là nỗi cô đơn của con người trên dòng sông cuộc đời.

Tập thơ Lửa thiêng
Tập thơ Lửa thiêng

Từ trước đến nay, thuyền và nước là hai sự vật luôn gắn bó mật thiết với nhau, nhưng ở Tràng Giang của Huy Cận lại tách biệt một cách hờ hững:

“Thuyền về bến, sầu trăm ngả;

Củi cành khô nằm trên mấy dòng. “

“Thuyền về” nhưng “nước đã về”, hoạt động đối lập, lạc bước này gợi sự xa cách và vì thế mang đến cảm giác cô đơn, hụt hẫng, “sầu sầu”, nhìn đâu cũng chỉ thấy buồn, buồn. Có thể nói, trung tâm của khổ thơ đầu là câu “củi trên cành tàn vài dòng” và “củi trên cành khô” là một hình ảnh đặc sắc bởi trong thơ cổ, nhất là thơ trung đại khi chất thơ phải. được đem về gọt giũa, chọn lọc như tùng, cúc, trúc, mai mà ít có những thứ hàng ngày đơn giản như củi khô. Thêm vào đó, tác giả đã sử dụng phép đảo ngữ và chắt lọc các từ đơn khiến câu thơ có vẻ đứt đoạn, thiếu mạch lạc và mất liên kết. Từ “lạc” ở đây được dùng rất dung tục, cho ta thấy đâu đó một thân phận đơn độc vô tình bị xô đẩy, bơ vơ giữa bao dòng nước xiết không biết trôi về đâu. Hình ảnh đặc biệt này là ẩn dụ cho kiếp trôi nổi, lạc lõng của con người trong thế giới rộng lớn, khiến nỗi buồn cứ chồng chất thêm.

Phân tích hai khổ thơ đầu của bài thơ Tràng giang Cảnh sông Hồng buổi chiều tà.
Phân tích 2 khổ thơ đầu của bài thơ Tràng giang – Cảnh sông Hồng chiều thu.

Sang khổ thơ thứ hai, tầm nhìn của nhà thơ đã vượt ra khỏi những gì trước mắt, để một không gian hoang vắng, hoang vắng từ từ hiện ra:

“Chút thơ cô đơn, gió hiu quạnh,

Còn đâu tiếng ồn ào của xóm làng xa chợ chiều.

Đọc những câu thơ này của Huy Cận, chúng ta nhớ đến một khung cảnh tĩnh lặng tương tự trong Chinh phụ ngâm khúc:

“Vầng trăng lẻ loi quanh vầng trăng,

Bến Phi gió thổi mấy ngọn đồi ”.

Cơn gió sầu này đã vượt qua không gian, thời gian và xuất hiện trở lại làm xao xuyến lòng thi nhân. Từ “nham nhở” được tác giả đặt ở đầu câu nhằm nhấn mạnh sự khan hiếm và manh mún của cảnh vật, có những tảng đá nhỏ mọc trên dòng “Tràng Giang” và trên những tảng đá ấy là những bãi lau sậy ngày nào. khi gió thổi qua dốc, bóng tối chia cắt, xua tan. Qua câu thơ tiếp theo ta bắt gặp một không gian mang dáng dấp “hơi người”, đó là chợ, chợ gợi bao giờ buôn bán tấp nập, là biểu tượng cho đời sống kinh tế của một vùng, mà ở đây chợ chỉ còn ở đâu đó. tiếng vang không rõ, sự sống đã bước vào thế tĩnh, không còn sủi bọt và sủi bọt, diễn tả bằng từ “vại”. Nguyễn Trãi cũng viết về chợ, nhưng chợ của ông nhộn nhịp và đông đúc:

“Chợ cá làng chài.”

Câu thơ của Huy Cận buồn nhưng tinh tế, ông đã khéo léo sử dụng động tác nói cái lặng, tả tiếng chợ chiều để gợi sự tĩnh lặng của không gian, ở đây nhà thơ muốn gửi gắm khát vọng giao hòa. , cảm thông với mọi người, ngay cả bằng thính giác. Đi tìm người không thấy, tác giả tiếp tục tập trung vào thiên nhiên, cảnh vật để làm thơ buồn càng buồn hơn:

“Mặt trời lặn và bầu trời thăm thẳm,

Sông dài, trời rộng, bến vắng ”.

Không gian ở đây đã được tác giả mở rộng ra ba chiều: chiều cao, chiều rộng, chiều dài và cả chiều sâu. Trong cách diễn đạt thông thường người ta hay nói “tháp cao”, nhưng Huy Cận lại dùng “tháp cao”, ông dùng chiều cao để đo độ sâu, một điều chưa từng có khiến người đọc ngạc nhiên. Đó là nó là tinh tế và độc đáo. Trong cái bao la, vô tận của vũ trụ là hình ảnh nhỏ bé, cô đơn của con người, nhân vật trữ tình như bị hút sâu vào thế giới, choáng ngợp trước không gian vô tận. Dù không có từ ngữ nào để chỉ con người ở đây nhưng ta vẫn có thể cảm nhận được đó là một cá thể nhỏ bé, cô đơn, lẻ loi. Hai chữ “cô đơn” ở cuối bài thơ, được viết bằng giọng điệu đầy nam tính, lại gợi lên nỗi niềm của nhân gian, rằng cuộc đời quá nhỏ bé, hữu hạn và vũ trụ là vô hạn và không ngừng mở rộng thành vô hạn. Nỗi buồn của con người đã lan tỏa khắp căn phòng, bao trùm lên mọi cảnh vật. Nếu khổ thơ đầu là sự “lóe sáng” cho nỗi đau thương thì ở khổ thơ thứ hai, những suy nghĩ của nhà thơ đã được bộc lộ rõ ​​ràng và sâu sắc hơn. Đó không phải là nỗi xót xa của cá nhân Huy Cận mà là nỗi niềm chung của cả một thế hệ, nhất là giới văn học nghệ thuật đầu thế kỷ XX.

Nhà thơ Cù Huy Cận
Nhà thơ Cù Huy Cận

Tràng Giang là một bài thơ có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong cách cổ điển và hiện đại. Trong đó điển cố được thể hiện ở thể thơ, cách đặt đề và cách sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình. Tính hiện đại là ở cách xây dựng chất liệu thơ và sử dụng những từ mới như “tháp sâu”. Chỉ với hai khổ thơ đầu của bài thơ, ta có thể thấy được tài năng của Huy Cận qua cách lựa chọn từ ngữ vô cùng đắt giá và cách chạy hiệu quả của bài thơ. Phân tích hai khổ thơ đầu của Tràng Giang ta thấy vừa buồn vừa đẹp, chúng hòa quyện vào nhau tạo nên những cảm xúc khó nói thành lời. Chắc chắn rằng tác phẩm này của Huy Cận sẽ mãi tỏa sáng trong lòng người yêu thơ, dù thời gian có trôi đi, dòng đời vẫn không ngừng hối hả.

READ  Review son Merzy Dreamy Late Night Mellow Tint – Màu tím mộng mơ cho nàng thêm thơ | Hanhphucvang

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Protected with IP Blacklist CloudIP Blacklist Cloud